Một số ý kiến về thi trắc nghiệm (Tháng Chín 14, 2016)

Trần Nam Dũng-Hà Huy Khoái-Vũ Hà Văn

(Bài đăng trên báo Thanh Niên, với tít mới của toà soạn.)

Gần đây dư luận tập trung nhiều vào việc bộ giao dục tổ chức thi trắc nghiêm môn toán vào năm học tới.

Có khá nhiều ý kiến phản biện quyết định này. Có hai ý chính thường được nhắc tới. Thứ nhất, kỳ thi tổ chức ngay năm tới là quá cập rập. Thứ hai, bản thân thi trắc nghiệm không phải là một cách thi tốt.
Chúng tôi muốn nêu một vài ý kiến về vấn đề thứ hai. Theo chúng tôi, nếu được chuẩn bị tốt (xin nhấn mạnh chữ “nếu”) thì thi trắc nghiệm có khá nhiều ưu điểm. Một số ưu điểm chính như sau:
(1) Đây là hình thức thích hợp khi số người đạt chuẩn chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số thí sinh. Kỳ thi tốt nghiệp là một kỳ thi như vây. Mục tiêu của nó không phải để tìm ra những học sinh có năng khiếu nhất về toán; đã có nhiều cuộc thi khác cho mục tiêu này.
(2) Ưu thế của thi trắc nghiệm là nó kiểm tra được kỹ năng suy đoán, ước lượng, và quyết định nhanh của thí sinh. Những kỹ năng này là những kỹ năng cơ bản mà mỗi người cần có khi “vào đời”, có thể quan trọng hơn là kỹ năng giải được một bài toán đầy đủ từ A đến Z.
(3) Không nên lo ngại “học vẹt, học thuộc”, vì nếu thí sinh “học thuộc” mà làm được đủ dạng bài tập thì hoàn toàn xứng đáng đạt chuẩn. Ngoài ra, đối với môn Toán, nếu không hiểu bản chất, thì khó lòng học thuộc được hết kiến thức, bởi một bài toán cơ bản (như giải hệ phương trình bậc nhất) có thể được thể hiện ở dưới rất nhiều dạng. Một số ý kiến sợ rằng học sinh đoán mò, nhưng đoán chỉ trúng với tỷ lệ 1/4, tức là sẽ dưới điểm chuẩn rất nhiều.
(4) Viêc chấm thi hết sức nhanh và nhẹ nhàng. Tránh được yếu tố chủ quan, thiếu công bằng . Ưu điểm này vượt trội so với chấm thi tự luận.

Vấn đề vướng mắc chính có lẽ là khâu ra đề. Nếu ra đề không tốt (như một số “đề mẫu” hiện thấy trên mạng) thì thí sinh có thể dùng máy tính cầm tay casio làm thay. Ở Mỹ, nơi mà thi trắc nghiệm được dùng phổ biến, ra đề là cả một ngành công nghiệp. Có các công ty chuyên sản xuất đề cho các cuộc thi lớn như SAT hay TOEFL.
Ngay cả một số kỳ thi học sinh giỏi cũng dùng thi trắc nghiệm (mặc dầu điều này hãn hữu hơn). Ví dụ là thi AMC cho học sinh các năm dưới. Một ví dụ khác là cuộc tuyển chọn ứng viên làm tiến sĩ tại Mỹ của chương trình VEF (năm đầu tiên). Một trong những tác giả bài viết này (HHK) được mời tham gia việc tuyển chọn ứng viên cho học bổng của Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) năm đầu tiên, và được phía Mỹ cho xem các đề trắc nghiệm họ sẽ dùng, với đề nghị thêm 20 câu cho thích hợp với chương trình VN. Có thể thấy đề của họ rất hay, phải nắm vững kiến thức mới làm được, không phải là chỉ cần học thuộc. Sau khi đã bổ sung thêm 20 câu trên tinh thần tương tự và phù hợp với chương trình đã học của sinh viên VN, kết quả là, những thí sinh đạt điểm trắc nghiệm cao nhất cũng chính là những thí sinh được đánh giá cao nhất khi phỏng vấn.
Việt Nam cần xây dựng một ngân hàng đề đủ tốt, được trải qua kiểm định nghiêm khắc về chất lượng. Việc này có lẽ cần thời gian và nhiều công sức, vì thế có thể nên cân nhắc việc thi ngay trắc nghiệm môn Toán. Học sinh cũng cần làm quen với cách thi này trong trường phổ thông, qua các kiểm tra đinh kỳ. Khi cả học sinh, giáo viên và phụ huynh đã hiểu rõ cuộc thi và có chuẩn bị tốt về kỹ thuật và tâm lý, kỳ thi sẽ dễ đạt được mục đích đặt ra hơn.

Sharing is good:
0

THỜI SINH VIÊN

Sắp cùng các bạn đồng môn kỷ niệm nửa thế kỷ bước chân vào Khoa Toán ĐHTH Hà Nội (8/1963). Không phải làm nghề văn nên sẽ không viết hồi ký. Mà có là nhà văn cũng chưa chắc đã viết. Ilya Erenburg có lần nói đại ý: hồi ký  cho ta bức tranh về quá khứ giống như hình ảnh ta thấy khi ngồi trong cái xe ô tô chạỵ ban đêm –  đèn pha của nó khi thì chiếu vào cái gốc cây, khi thì dọi vào hòn đá. Mà trên thực tế chắc gì đó đã là gốc cây, hòn đá? Anré Weil cũng mở   đầu cuốn   “Souvenirs d’apprentissage” bằng câu: khi viết hồi ký thì nghệ thuật quên cũng quan trọng như là nghệ thuật nhớ!

Thôi thì nhớ cái gốc cây, hòn đá nào, cứ viết ra vậy Continue reading “THỜI SINH VIÊN”

Sharing is good:
0

NGÀY HỘI TRƯỜNG

Trên lễ đài, thầy Hiệu trưởng đang đọc báo cáo. Thầy nhắc tên nhiều học sinh cũ, những người trở thành doanh nhân thành đạt, bộ trưởng, tướng lĩnh, nhà văn, nhà khoa học…Cậu bạn cũ kéo tay tôi lôi ra góc vườn trường. Chỉ vào cây liễu, cậu ta kể:

  • Cây này do tớ trồng đấy! Hôm đó trường bắt mỗi người nộp một cây con nhân lễ “Tết trồng cây”, mà tớ quên mất. Giữa đường nhớ ra, tớ bẻ một cành liễu, lấy bùn bọc bên ngoài làm giả cái cây non. Ai ngờ khi trồng xuống đây, gặp thời tiết tốt, cành liễu đó trở thành cây liễu đẹp tuyệt bây giờ đấy!

Rồi cậu ta tiếp:

  • Ngồi trong hội trường, nghe nhắc tên các “danh nhân”, tớ cứ có cảm giác xa lạ thế nào ấy. Chỉ khi đứng bên cây liễu này, tớ mới thực sự thấy ngôi trường là của mình, và những kỷ niệm cũ của chúng mình ngày xưa trở lại. Cứ như mới vừa xẩy ra ngày hôm qua.
Sharing is good:
0

TẢN MẠN VỀ “NGHỀ LÀM TOÁN” (trò chuyện giữa Hà Huy Khoái và Ngô Bảo Châu)

  NBC: Tỉ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà toán học Việt nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái ? Continue reading “TẢN MẠN VỀ “NGHỀ LÀM TOÁN” (trò chuyện giữa Hà Huy Khoái và Ngô Bảo Châu)”

Sharing is good:
0

PHỞ BÒ NAM ĐỊNH

Thành phố nào ở Việt Nam cũng có những quán “Phở bò Nam Định”. Lần này được một bạn đưa về “quê hương gốc” của phở bò Nam Định: thôn Giao Cù, Nam Trực. Theo lời anh bạn, phải là phở nhà họ Cồ mới thực sự là “gốc”.

Loanh quanh mãi cũng đến được quán phở họ Cồ. Không có vẻ là hàng phở, ngoài việc vẫn còn mấy cái bát khách đã ăn đang để ở một trong bốn cái bàn của phòng khách. Cô chủ quán xinh đẹp dọn cho ba người ba bát phở, như là đãi khách đến chơi. Bàn bên cạnh, con gái cô chủ quán cũng đang vừa ăn phở, vừa xem tivi.

Nghe nói làng này phần đông gửi con cho ông bà, còn bố mẹ đi khắp nơi làm giàu bằng món phở gia truyền. Nhiều thầy giáo cũng đổi đời nhờ xếp bút nghiên, cầm dao thớt.

Phở ngon. Nhưng không dám “bình”, vì chắc không hơn được cụ Nguyễn Tuân. Mà mình thì chỉ thiếu chút nữa là tụt xuống hàng “thực bất tri kỳ vị”.

Nhưng mà ăn phở ở nơi là “gốc” của phở Nam Định cũng thấy vui. Chợt nhớ hồi ở Paris, một lần Ngô Bảo Châu rủ đi ăn quán phở Việt ở gần Nhà thờ Đức Bà: “Cháu thích cái quán phở này vì bàn ghế, những chai tương ớt để trên bàn trông hơi bẩn bẩn. Nó gợi nhớ Hà Nội!”. Mà qủa thật, ăn ở đó có cảm giác “phở” hơn những nhà hàng Việt ở Quận 13.

Thế mới biết, vị ngon của món ăn đâu chỉ nằm trong cái bát.

Sharing is good:
0

CHUYỆN GIÁO DỤC VÙNG CAO

Đi dạy cao học, chẳng biết dạy được học viên cái gì, nhưng mình thì học được rất nhiều điều ở họ. Những mẩu chuyện có thật, mặc dù có thể ai đó nói là “không điển hình”, vẫn giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục. Không nên chỉ nhìn loanh quanh ở mấy thành phố lớn. Cũng không thể chỉ “nhìn ra thế giới” rồi phán những điều rất thông thái về giáo dục Việt Nam. Thỉnh thoảng cũng nên ngó một chút về vùng sâu, vùng xa, nơi “khỉ ho cò gáy”.

Sẽ đưa dần lên đây những mẩu chuyện nghe được. Không bình luận.
Continue reading “CHUYỆN GIÁO DỤC VÙNG CAO”

Sharing is good:
0

LẤN BIỂN

Gần Bảo tàng Quảng Ninh có mấy hòn núi đá vôi tuyệt đẹp. Cái thì đứng trên đất bằng, cái thì đứng trong một hồ nước, nhưng vì cái hồ nhỏ quá nên có cảm giác như nó đứng trong ao.
Nghe nói chỉ cách đây 10 năm thôi, những hòn núi đó đang ở giữa biển, bên cạnh những hòn núi khác, mà người ta gọi là đảo, để làm nên Vịnh Hạ Long. Rồi người ta lấn biển. Mỗi “đời” lãnh đạo lấn thêm một ít. Những biệt thự kiểu Pháp, nhà hàng sang trọng san sát mọc lên. Những hòn núi vĩnh viễn bị chia lìa với biển. Trông nó bây giờ như biểu tượng của sự xa cách tuyệt vọng. Núi, biển nhìn thấy nhau mà không bao giờ gặp mặt. Biển ở đây lặng quá. Bình thường thấy vịnh thật hiền hòa yên tĩnh, nhưng khi nhìn những ngọn núi này, lại có cảm giác hình như cái vịnh này hơi có phần cam chịu. Giá như biển có thể làm nên những cơn sóng cuồng nộ tràn bờ thì may ra đôi lúc núi, biển còn được gặp nhau.
Dọc theo vịnh bây giờ có một con đường “bao biển” rất đẹp. Nó cũng có công chấm dứt chuyện lấn biển. Nhưng nghe đâu một kỳ lãnh đạo mới lại muốn lấn thêm. Kế hoạch không thành vì hai lý do. UNESCO dọa là nếu còn lấn nữa thì sẽ đưa Hạ Long ra khỏi danh sách “di sản thế giới”. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Lý do chính là mấy đại gia, ông chủ những biệt thự kiểu Pháp bên bờ biển phản đối. Nếu lấn nữa, họ sẽ thành ra ở “hàng hai”, bị những đại gia mới án ngữ trước mặt. Thât là ơn các đại gia, nếu không thì Hạ Long dần dần sẽ thành “Hạ Long trên cạn”.

Sharing is good:
0

LY HOÀNG LY, PHẲNG CHUNG THUỶ VÀ TOÁN HỌC

(Đã đăng Tuổi trẻ cuối tuần, 25/7/2014)

Không phải lần đầu tiên Toán học là cảm hứng cho nghệ thuật. Sanvador Dali từng có loạt tranh cuối đời lấy cảm hứng từ “lý thuyết tai biến” của René Thom. Nhưng nếu Sanvador Dali vẽ nên “hình học của các tai biến”, thì Ly Hoàng Ly vẽ theo những con chữ của “Bổ đề cơ bản Langlands-Ngô Bảo Châu”.

Họa sĩ thuật lại công việc của mình thật giản dị trong lớp học của Ngô Bảo Châu:

“…tôi trở thành người ký họa không hiểu gì,chỉ đơn giản chép lên sổ vẽ tất cả các ngôn ngữ toán và các hình ảnh mà Giáo sư Châu viết lên bảng đen, giải thích chứng minh Bổ đề cơ bản của ông cho sinh viên…”

“…Trong cuộc hội thoại với giáo sư Ngô Bảo Châu, tôi hỏi ông có cách nào thị giác hóa thuật ngữ phẳng chung thủy theo như ngôn ngữ thông thường, Giáo sư Châu đáp:”Nếu một cái đinh ốc là một cái chốt có ren để gắn các vật vào nhau, thì phẳng chung thủy có thể được hình dung như một cái đinh ốc gắn giữ nguồn gốc của những dạng toán đã được biến đổi”. Tôi mượn thuật ngữ toán học phẳng chung thủy làm tựa đề cho dự án nghệ thuật đang triển khai của mình. Dự án này, có vẻ như nghịch lý với tựa đề, đã khởi lên từ nỗi ám ảnh kéo dài của tôi về hình dạng của các biến lệch trong ngôn ngữ…”

Ta nhận ra một điều cũng thật giản dị: hình như Toán học và Nghệ thuật tìm đến với chân lý bằng những con đường giống nhau: đi từ cái cụ thể đến trừu tượng, để đến khi nào đó trở về hiểu rõ hơn cái “cụ thể” của đời thường. Tôi tin rằng những cuốn vở ghi của các nhà toán học khi nghe Ngô Bảo Châu giảng bài không khác nhiều lắm với so với cuốn “vở ghi” của học viên Ly Hoàng Ly. Có chăng là mỏng hơn một ít! Nhưng trong khi những học viên-toán học đang nhọc nhằn tìm hiểu ý nghĩa các con chữ, mà có thể nhiều năm sau họ mới thật sự hiểu, thì Ly Hoàng Ly đã hiểu bản chất của vấn đề: phẳng chung thủy!

Có thể đó là sự khác nhau cơ bản của Toán học với Hội họa và Âm nhạc chăng: cũng là đi tìm chân lý, nhưng một bên phải thông qua những suy luận logic nhọc nhằn, bên kia thì có thể đạt đến một cách “xuất thần” nhờ những tia chớp của cảm hứng?

Thật thú vị khi nghe Ly Hoàng Ly kể lại cách tạo ra “Phẳng chung thủy”.

Giáo sư Châu được mời tương tác bằng việc đặt từng trang giấy can lên các bản vẽ của tôi – nơi ngôn ngữ toán đã được chuyển đổi thành ngôn ngữ thị giác. Ông tìm cách lấp đầy những khoảng hổng được tạo ra bởi sự diễn dịch sai. Trong nỗ lực chỉnh lại các bức ký họa, nhiều lúc ông cũng hoang mang, không hiểu người trình diễn vẽ viết gì, và kết quả là, ông vẽ một mặt người hay cái dấu hỏi chồng lên hình ảnh khó hiểu. Với nghệ sĩ, nhà toán học đã tạo nên một hình thức thơ cụ thể với tinh thần trừu tượng”.

Những phác họa được gửi cho thợ thêu. Họ lần theo các đường nét và thêu lần lượt bằng chỉ bạc và đen, trên lụa mỏng.

Ly Hoàng Ly không biết mình đang vẽ cài gì. Những người thợ thêu không biết họ đang thêu cái gì. Ngay cả Giáo sư Châu cũng nhiều khi không hiểu mình đang tô lại trên giấy can cái gì!

Những người “không biết mình đang làm gì” đã tạo nên cái đẹp! Nhưng đó chính là điều đã xẩy ra với Toán học hàng ngàn năm nay. Khi Apolonius ngồi cắt dán những đường conic vì thấy chúng đẹp, ông không hề biết rằng mình là người đầu tiên đặt nền móng cho Kepler và Newton, để 20 thế kỷ sau họ tìm ra quỹ đạo chuyển động của các hành tinh. Khi tìm đến cái đẹp tức là ta đồng thời bắt gặp chân lý. Ly Hoàng Ly nói về nghệ thuật mà tưởng như đang nói về sự tranh cãi cả ngàn năm nay, từ Platon, Aristote đến Hilbert, Godel. Đó là vấn đề về đối tượng của Toán học. Một trong những điều kỳ lạ nhất của Toán học là: ta biết rõ những kiến thức toán học mà ta có là gì, hơn là những kiến thức đó nói về cái gì!

Nhưng nói cho cùng, Nghệ thuật “may mắn” hơn Toán học: nếu trong Toán học dường như chỉ có một “chân lý” (định lý) mà người ta buộc phải tìm cách hiểu, thì trong hội họa và âm nhạc, mỗi người có thể cảm nhận theo cách của riêng mình. Không cần phải “hiểu”, chỉ cần “cảm nhận” được là mỗi người đã có thể đạt đến chân lý. Của riêng mình.

Sharing is good:
0

LÒNG NGƯỜI MÊNH MANG

Đi cà phê Trung Nguyên về. Gặp được một ông trông Quen Quen. Lại được thấy Cụ Hinh vừa đàn vừa hát. Ra về còn được cho cuốn “Lòng người mênh mang” của Hoàng Hồng Minh. Nghe nói cuốn này thuộc thể loại mới lắm. Hình như là “Bút tản văn tùy”, mà không phải, là “But tùy văn tản””. Cũng không phải, mới quá, chưa kịp nhớ.

Nghe ông họa sĩ Lê Thiết Cương nói. Ông này thật lạ. Vẽ thì ông ấy kiệm nét là phải, vì cũng đỡ tốn dầu vẽ. Đằng này, lời nói chẳng mất tiền mua mà cũng kiệm. Mỗi câu:”Hoàng Hồng Minh viết về cái rất nhỏ để nói cái rất to”. Chẳng hiểu mô tê chi cả. Xem tranh không hiểu gì còn được, chứ nghe nói mà không hiểu, bực lắm.

Rồi đến ông tác giả, kể là ông ta đã phải ngụp lặn xuống mấy tầng văn hóa mới ra được cái “tản, tùy” này. Hãi quá. Mới lênh đênh trên cái xã hội này đã thấy kinh, ngụp lặn dưới đó thì bao giờ gội đầu cho sạch?

Rồi lại nghe con gái Chau Ngo đọc một đoạn trong sách. Hình như là về cái dự án làm nhà máy sản xuất săm-pun gội đầu. Đã tưởng là hiểu, vì đó là việc cần làm ngay sau khi ở dưới mấy tầng văn hóa ngoi lên, ai dè là “săm-pun” để gội đầu cho…vịt!

Cầm cuốn sách về nhà, xếp kỹ lên giá. Nhìn rất thích, vì cái ông Lê Thiết Cương này trình bày rõ đẹp. Nhưng mà chưa dám đọc. Chỉ lo càng đọc càng khó.

Long người mênh mang…hiểu thế nào được.

Sharing is good:
0

CẠN VỐN

Năm cũ đi qua, năm mới vừa đến, cái từ được nghe nhiều nhất, nghe khắp mọi nơi là vốn. Hình như ai cũng thiếu vốn. Vậy nên lẽ ra mừng xuân thì phải có cài chủ đề gì vui vui, đằng này Tia Sáng lại cũng đưa ra chủ đề “vốn”. Mà mình cũng đã cạn vốn. Không phải chỉ cạn tiền, mà như cạn nhiệt tình, nên không biết viết gì nữa.

Lật ngẫu nhiên một trang Sông của Nguyễn Ngọc Tư, bắt gặp ngay câu: “Đất nước này vốn dựa vào thần thánh, vào anh hùng mà sống, rồi bỗng dưng hai thứ đó vắng teo“.

Sao lại bỗng dưng? Có cái gì lại bỗng dưng mà vắng teo đâu.

Hình như trước đây Chế Lan Viên cũng nói đại ý:

Một đất nước thường sống bằng tiềm lực,                                                         Trong mỗi quả thị nghèo đều có một nàng tiên.

Ngày nay vốn anh hùng, vốn thần thánh, vốn tiềm lực, cạn cả rồi chăng?

Không còn vốn thần thánh để răn đe, nên người nông dân hiền lành chất phác cũng sẵn sàng tiêm thuốc độc vào hoa quả cho người khác ăn, miễn là mình thêm chút vốn tiền.

Không còn vốn anh hùng nên giữa đường có thấy sự bất bằng, người ta cũng bỏ qua. Nên một tên côn đồ với con dao trong tay có thể khống chế cả xóm.

Nhớ lại hồi còn chiến tranh, cái vốn niềm tin sao mà lớn quá. Ai cũng tin sẽ đến ngày hết chiến tranh, đất nước thống nhất. Chỉ là không biết bao giờ thôi. Người ta đoán già, đoán non, mang cả “sấm Trạng Trình” ra để đoán. Có người dẫn câu:

Mười người chết bảy còn ba

Chết hai còn một mới ra thái bình

Nhưng không ai thích câu đó, vì nghe ghê gớm quá, vì người ta chỉ tin vào những gì tốt đẹp thôi. Vậy là tìm được câu sau, cũng của Trạng Trình:

Mã đề giương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

Đó là vào năm 1965, năm Tỵ. Người ta doán là sang năm Ngọ, mã đề giương cước thì anh hùng chết sạch! Nhưng vì niềm tin lớn quá nên người hay chữ lại giải nghĩa rằng “anh hùng tận” ở đây là tất cả đều là anh hùng, ứng với cái câu cửa miệng thời đó “ra ngõ gặp anh hùng”. Và người ta đều mong sang năm Thân (1968), năm Dậu (1969), cái sự thái bình bắt đầu được kiến tạo.

Thế mới phục Trạng Trình, viết để người ta giải thích thế nào cũng được. Nhưng giải thích thế nào, cũng lại tùy thuộc cái vốn của người đọc mà thôi. Mấy câu đó mà đưa ra bình bây giờ, cũng lại vào năm Tỵ, chắc phải có nghĩa khác.

Ngẫm ra trong mọi loại vốn, có lẽ cái vốn niềm tin là quan trọng nhất. Chỉ xin kể câu chuyện nhỏ này thôi.

Có hai người tù bình nằm chung một xà lim, một già, một trẻ. Hai người ngày ngày đào tường để mong trốn thoát. Cho đến hôm đào thông được ra ngoài, người tù già đưa cho anh bạn tù trẻ cái bọc nhỏ và dặn: ”Lão già rồi, có trốn ra cũng không đủ sức về đến nhà. Chú cầm lấy cái gói này. Đây là khúc bánh mỳ mà lão đã giữ để phòng xa. Nay đưa   để chú phòng thân. Chỉ nhắc chú một điều, trước khi mở ra ăn thì nên tự hỏi là đã đến mức tuyệt vọng chưa, hay vẫn còn cố được. Nếu thấy vẫn chưa phải là lúc tuyệt vọng nhất thì khoan hãy mở”. Anh bạn trẻ, trải qua bao khó khăn, về được đến nhà. Kể lại câu chuyện cho cả nhà nghe, anh ta nói rằng đã rất nhiều lần định mở cái gói, nhưng lại tự nhủ là vẫn chưa đến nỗi tuyệt vọng, nên để dành lại cho lúc khó khăn hơn. Chính vì niềm tin là vẫn còn vốn đó nên anh ta đủ nghị lực về được đến nhà. Trịnh trọng đặt cái gói lên bàn và mở ra cho cả nhà xem, anh chàng kinh ngạc vì đó chỉ là một hòn đá!

Đất nước bốn ngàn năm, cái vốn niềm tin đâu chỉ nhỏ như hòn đá. Vậy nhưng xin đừng phung phí nó. Hết cái vốn đó rồi, khi tuyệt vọng biết bấu víu vào đâu?

Sharing is good:
0