TẢN MẠN NGHỀ LÀM TOÁN (trò chuyện với Ngô Bảo Châu)

Ngô Bảo Châu: Tỷ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà toán học Việt Nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái?

Hà Huy Khoái: Có thể gia đình chú không có “tỷ lệ trên đầu người làm toán cao nhất Việt Nam” (cũng có một số gia đình tương tự, như gia đình các giáo sư Phan Đình Diệu, Nguyễn Minh Chương,. . . ). Tuy nhiên, chú bỏ qua việc cạnh tranh cái “kỷ lục” này, để trả lời câu hỏi tiếp theo. Đây đúng là một phần của truyền thống gia đình, một phần là kết quả của một sự TẤT NHIÊN tai quái (không phải “ngẫu nhiên”, nhưng vẫn là “tai quái”)! Truyền thống, vì cho đến những đời còn ghi lại được trong gia phả (cũng nhiều thế kỷ rồi), thì hình như các cụ kị của chú chỉ biết mỗi nghề…đi học! Có một số cụ đỗ đạt, nhưng có “làm quan” thì cũng chỉ trông coi việc học, như là Huấn đạo, Đốc học, “to” nhất thì chắc là Tế tửu Quốc Tử Giám. Thành ra đến đời chú cũng chỉ biết tìm nghề học mà thôi. Vấn đề còn lại chỉ là: học cái gì? Ở phổ thông, chú thích học tất cả các môn: Văn, Toán, Sử, Địa,. . . , có lẽ chỉ trừ môn Thể dục! Thích nhất là Văn, Sử. Thời đó thì Toán có gì để thích đâu: không học thêm, không sách tham
khảo, chỉ có sách giáo khoa thôi, mà hình như giáo khoa thời đó cũng dễ hơn bây giờ. Cho nên Toán chỉ được thích vì dễ! Có thể đó cũng là cái may lớn, vì chưa sợ Toán khi học phổ thông, nên sau này vui vẻ đi theo nghiệp Toán! Còn cái sự tất nhiên tai quái nào dẫn chú đến Toán, mà không phải Văn, thì là vì thời chú học phổ thông cấp 2, 3 (1958-1963) là thời mà sự kiện “nhóm Nhân văn – Giai phẩm” còn ồn ào lắm. Ông cụ thân sinh của chú, là một nhà giáo, khuyên các con theo nghề Toán, vì chắc chắn tránh được những nhóm tương tự! Còn thế hệ tiếp theo (Tài, Lam, Thái) thì có thể là do “quán tính”!
Tuy vậy, nếu bây giờ cho chọn lại, chắc chú vẫn chọn nghề Toán!
NBC. Chú đã sống với toán học và khoa học Việt Nam qua những thời kỳ rất khác nhau. Thời kỳ trước thống nhất đất nước, thời kỳ từ 75 đến khi bức tường Berlin sụp đổ, thời kỳ từ 1990 đến nay. Liệu chú có thể chia sẻ những suy nghĩ của mình về những sự biến đổi của khoa học Việt Nam trong từng thời kỳ này không?
HHK. Câu hỏi lớn quá, và ngẫu nhiên trùng với một ý định từ lâu của chú là viết một cuốn “Hồi ký toán học”. Nói là “hồi ký” có thể không đúng lắm, nhưng là chú muốn viết về những điều “mắt thấy, tai nghe, đầu nghĩ” của mình về cái giai đoạn đầy biến động đó, mà chú may mắn (có thật là may không?) được chứng kiến. Không hiểu rồi cái “hồi ký” mà chú dự định có thể hoàn thành được không, nhưng nếu cần có câu trả lời (dù nhỏ) cho câu hỏi lớn của cháu, thì chú nghĩ có thể là thế này.
Trong biến động nào cũng có hai phần: tinh thần và vật chất, dĩ nhiên là không độc lập với nhau. Trước 1975, hầu như cả dân tộc Việt Nam sống bằng niềm tin vào ngày thống nhất đất nước. Niềm tin đó giúp người ta vượt qua mọi khó khăn về vật chất. Khoa học Việt Nam, Toán học Việt Nam cũng không nằm ngoài không khí chung đó. Khổ, nhưng thấy học toán, làm toán là một niềm vui lớn. Đặc biệt, những năm đầu tiên bước vào ngành toán chính là những năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời làm toán của chú, khi được cùng GS Lê Văn Thiêm và mấy người đàn anh áp dụng phương pháp nổ mìn định hướng vào việc nạo vét Kênh nhà Lê phục vụ giao thông thời chiến. Trong chiến tranh, hình như con người lại “lãng mạn” hơn trong thời bình. Lãng mạn, vì ít tính toán hơn. Cũng có thể không có gì để tính toán. Mà lãng mạn thực sự là điều cần cho những ai đi vào toán học, vì nghề làm toán lại là nghề khó “tính” trước nhất! Có ai dám chắc mình sẽ được kết quả gì trong tương lai.
Thời kỳ đầu sau 1975 là thời mà toán học Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Rất nhiều người được cử đi học tập ở nước ngoài, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng rồi những thuận lợi đó nhanh chóng qua đi, khi vào khoảng 1985 kinh tế Việt Nam bộc lộ những khủng hoảng trầm trọng của cái thời mà ta gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”. Không thể sống bằng nghề làm toán với đồng lương ít ỏi, một số phải đi dạy học ở châu Phi, số khác tìm những nghề “tay trái” (nhưng thu nhập hơn nhiều lần “tay phải”), một số khác may mắn hơn thì tìm kiếm được những học bổng để đi nước ngoài. Ngành toán Việt Nam vượt qua được giai đoạn gay go đó trước hết nhờ vẫn còn có những người chịu “sinh nghề, tử nghiệp” với toán, và cả những người “may mắn” nhận được học bổng nước ngoài để sống và tiếp tục làm toán.
Sau 1990, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Toán học Việt Nam cũng đứng trước thách thức hoàn toàn mới. Có lẽ lần đầu tiên, những người làm toán ở Việt Nam phải tự đặt câu hỏi: tại sao lại làm toán, mà không làm nghề khác (có thể kiếm nhiều tiền hơn)? Cái thời mà làm việc gì cũng nghèo như nhau, thì ai thích toán cứ làm toán. Bây giờ, thích toán nhưng cần tiền, có làm toán nữa không? Cái chất “lãng mạn”
mà toán học rất cần đã không còn, hay là còn rất ít đất sống. Ông Frédéric Pham đã từng đặt câu hỏi “Y- aura-t-il toujours des mathematiciens au Vietnam l’an 2000” (Gazete de mathematiques, vol. 64, pp. 61-63, 1995). Nhưng toán học Việt Nam, năm 2000, vẫn tồn tại qua thời khủng hoảng. Có thể là do kinh tế Việt Nam cũng đã bước qua khủng hoảng. Cũng có thể do những ai đã chọn toán làm nghề nghiệp của mình thì cũng không đòi hỏi quá nhiều về vật chất, nên họ dễ tự bằng lòng với cuộc sống không cần quá nhiều tiền của mình! Có ai đó nói: “Không nên lãng mạn hóa cái nghèo”, đúng lắm, nhưng cũng đừng để cái nghèo giết chết lãng mạn. Không còn lãng mạn sẽ không còn âm nhạc, thơ ca, không còn toán học.
NBC. Chú nghĩ như thế nào về tương lai của toán học Việt Nam?
Cháu hỏi chú nghĩ gì về tương lai? Để tồn tại, có lẽ toán học Việt Nam đã qua cái thời khó khăn nhất. Còn để phát triển lên một bước mới: chắc vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Xã hội Việt Nam đang trong cái thời kỳ đầu của “kinh tế thị trường”, cái thời mà chuẩn mực của sự “thành đạt” nhiều khi được đo bằng tiền. Mà tiền chính là cái các nhà toán học có ít nhất! Vậy nên, chỉ những người có quan niệm khác về “thành đạt” mới có thể chọn toán làm nghề nghiệp của mình. Về tương lai của toán học Việt Nam, chú trông chờ hai điều: 1/ nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển để đến khi các nhà doanh nghiệp Việt Nam không còn tự hài lòng với việc giàu lên do làm người bán hàng cho nước ngoài, hoặc người bán nguyên liệu của nước mình cho nước ngoài. Đến khi họ không muốn và không thể tiếp tục làm giàu theo cách đó, họ sẽ cần đến khoa học công nghệ. Khi đó, khoa học cơ bản, toán học sẽ có tiếng nói của mình. 2/ các nhà lãnh đạo thấy rõ đầu tư cho khoa học cơ bản – cũng có thể xem là một phần của việc đầu tư cho giáo dục – là việc làm lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, là việc của Nhà nước. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo cũng cần phải “lãng mạn”, để nhìn được tương lai xa hơn những lợi ích trước mắt có thể “cân đo đong đếm” dễ dàng.
NBC. Cháu cũng thấy thật đáng sợ khi người ta lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi thứ. Trong cuộc sống, mình vẫn phải tính toán thiệt hơn, nhưng không thể đem cái tính toán thiệt hơn ra làm nền tảng xã hội. Dù sao thì cháu vẫn tin đến lúc nào đó thì chúng ta sẽ tỉnh lại, vì cái căn của con người Việt Nam vẫn là sự tử tế.

HHK. Người làm toán bao giờ cũng gặp mâu thuẫn giữa ý muốn làm được cái gì thật hay với việc phải “sản xuất đều đều công trình” (nhất là khi phải xin tài trợ). Theo cháu làm thế nào để sống yên ổn cùng một lúc với hai ý muốn đó?
NBC. Theo cháu, mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời. Ngược lại, trong mỗi việc cụ thể mình làm thì lại không nên câu nệ xem đây là bài toán to hay nhỏ, mà bản thân mình thấy hay là được. Có điều mình phải luôn tự nhủ phải trung thực với bản thân. Chú có biết cái câu thơ này của ông Bảo Sinh không:
Tự do là sướng nhất đời
Tự lừa còn sướng bằng mười tự do.
HHK. Người làm toán nào cũng ít nhiều thích “nổi tiếng”, nhưng khi quá nổi tiếng (chẳng hạn được Fields) thì hình như sự nổi tiếng lại thành gánh nặng. Cháu có lời khuyên thế nào với các bạn trẻ?
NBC. Cháu nghĩ ai cũng cần sự công nhận, sự tôn trọng từ những người khác. Trường hợp ông Perel- man là rất ngoại lệ. Còn sự nổi tiếng theo kiểu tài tử xi nê thì thực ra rất là bất tiện. Chỉ có điều trong trường hợp của cháu, mình không có cách nào khác ngoài chấp nhận nó, rồi cố gắng hướng nó vào những việc có ý nghĩa.
HHK. Khi tiếp xúc với những nhà toán học nước ngoài, chú có cảm giác nói chung họ biết nhiều hơn (về những thứ “không toán”, hay có thể gọi chung là “văn hóa”) so với những người làm toán ở nước ta. Cháu có thấy thế không? Có thể giải thích thế nào về hiện tượng này, và nó ảnh hưởng thế nào đến chính việc làm toán của “họ” và “ta”?
NBC. Cháu lại thấy các nhà khoa học phương Tây hay thắc mắc làm sao mà người phương Đông, không chỉ riêng các nhà khoa học, ai cũng là triết gia. Có thể là cái phông văn hóa phương Đông và phương Tây rất khác nhau, nên ai cũng thấy người kia biết những thứ mà mình mù tịt. Nhưng đúng là cái phông văn hóa có chi phối hoạt động khoa học. Ở phương Đông cháu thấy người ta thích cái kiểu tầm chương trích cú quá.

Có một cái các nhà khoa học phương Tây, tính cả Ấn Độ, hiểu biết hơn hẳn các nhà khoa học phương Đông, đó là âm nhạc, nói rộng ra là khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Theo cháu cái khả năng này là một phẩm chất không thể thiếu của người làm toán.
Là một người gắn bó với khoa học Việt Nam gần như từ lúc khai sinh, chú Khoái có thể nói một vài lời cho những bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào con đường khoa học không?
tiền; thích tự do làm cái mình muốn mà vẫn mong có nhiều quyền; thích được yên tĩnh để đắm mình vào suy tư riêng mà vẫn mong cái sự nổi tiếng – đó là những mâu thuẫn mà nếu không nhận thức ra thì cứ tưởng mình đang phải hy sinh, đang “dấn thân”! Làm khoa học cũng là một nghề, như mọi nghề khác. Nếu thích giàu thì nên đi buôn, thích quyền thì nên đi làm chính trị, thích hiểu biết, thích tự do thì nên đi vào khoa học. Nghề nào cũng có cái “được” và “mất”. Quan trọng nhất là hiểu cho được mình thực sự cần cái gì. Điều này không dễ, nhất là khi người ta còn trẻ. Bởi vậy, nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?
Trong cuộc đời, ai cũng có thể mắc sai lầm. Theo cháu, bao giờ thì một người cần nhận ra rằng mình đã sai lầm khi chọn nghề Toán, và nên đổi sang nghề khác?
NBC. Cháu thấy có nhiều lý do khiến người ta có thể từ bỏ nghề Toán và chọn một nghề khác. Trong trường hợp không nhìn thấy triển vọng nào để
HHK. Chú không thích lắm cái chữ “dấn thân”. Nó làm cho người đi vào khoa học có vẻ như ra chiến trường, có vẻ như sẵn sàng hy sinh vì người khác. Thực ra đi vào khoa học cũng không phải “hy sinh” cái gì hết. Ta làm khoa học vì ta thích hiểu biết, thích sáng tạo. Làm khoa học thì được đọc nhiều, tức là được thụ hưởng hơn người khác cái kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Mà đã thụ hưởng thì có nghĩa vụ đền đáp, tức là phải cố gắng góp được cái gì đó, dù nhỏ. Cuộc sống bao giờ cũng sòng phẳng. Nếu mình đã được làm cái mình thích thì cũng không nên đòi hỏi cuộc đời cho lại đầy đủ mọi thứ như người khác. Thích hiểu biết (thực chất cũng là một thứ hưởng thụ) mà lại vẫn mong có rất nhiều
nghề Toán tạo cho gia đình mình một cuộc sống tạm gọi là tươm tất, thì Toán không còn là nghề nữa mà là một dạng nghệ thuật để theo đuổi. Để theo đuổi một nghệ thuật thì cần một tình yêu mãnh liệt lắm. Đấy là nghĩa của từ dấn thân mà cháu sử dụng. Nhưng đo độ mãnh liệt của tình yêu thì không dễ.
Để làm toán, người ta chỉ sử dụng một số khá hạn chế khả năng của con người, nhưng lại sử dụng chúng một cách tối đa. Khi nhận ra rằng mình thiếu một số khả năng để làm nàng Toán hoan hỉ, mà lại thừa những khả năng mà nàng ta lờ đi, thì có khi cũng nên tìm một nghề khác với nghề nghiên cứu Toán. Yêu đơn phương lâu dài thì mệt lắm.

Sharing is good:
0

TÊN PHỐ

I/ Nhìn những tên phố Paris, mình thường nhớ lại hồi học sinh. Không phải vì đã từng ở đó, mà chỉ vì đã đọc nó trong tiểu thuyết. Qua ngôi nhà số 50-52 Boulevard de l’Hopital là nghĩ như anh chàng Marius và Thénardier đang ở đó! Rồi có thể dạo bộ từ St. Denis đến cầu Austerltz, và hình dung dưới lòng cống, ông già Jean Valjean đang khó nhọc bước đi. Cách đấy không xa là phố Cherche-Midi, cái tên hơi lạ, mà Erenbourg nhắc đến trong “Paris sụp đổ”.

Thật tuyệt vời, khi người ta giữ nguyên những cái tên đã hàng trăm năm. Gay Lusac, Saint Michel, Jardin du Luxembourg,…

II/ Vài năm trước, bạn P H Hải có viết: “Hôm nay cảm thấy mình già quá rồi, vì đi cùng một bạn không hề biết rằng phố Tôn Đức Thắng có thời mang tên Hàng Bột”. Mình “cảnh báo”: Hải chưa già đâu, sẽ đến lúc già hơn, đi bên một bạn không hề biết phố Hàng Bột đã có thời mang tên Tôn Dức Thắng.

III/ Một anh bạn Nga kể rằng: anh ta sinh ra ở Saint Petersbourg, lớn lên ở Petrograd, làm việc ở Leningrad, và về già lại trở về Saint Petersbourg.

Có người nói :”Nếu có sự vật nào đó mà bạn chỉ mới biết tên, thì cũng có nghĩa như chưa biết gì cả”! Có lẽ đúng.

Nhưng nhìn những tên phố, cũng hiểu ra nhiều điều!

Sharing is good:
0

DẠY…SỢ CON NGƯỜI

Ở Cúc Phương có Khu cứu hộ, bảo tồn động vật hoang dã. Nhiều con thú thuộc loại quý hiếm được cứu thoát khỏi lũ buôn bán động vật, đưa vào đây. Chúng được chăm sóc, chữa bệnh, khi khoẻ hơn thì được trả vào khu “bán hoang dã”. Ở đó chúng tự tìm lấy thức ăn, không được chăm bẵm như khi còn yếu. Sau khi thích nghi với lối sống “tự lập”, những con thú ở khu “bán hoang dã” sẽ được trả về với rừng, để lại được trở thành hoang dã.

Chúng đã quen tự tìm thức ăn trong rừng, nhưng có lẽ như thế chưa đủ. Sau thời gian được những người tử tế chăm sóc, những con thú đã quên mất phản xạ sợ con người.

Không biết sợ con người dã man, những con thú được trả về với hoang dã đó liệu có tồn tại được không? Làm sao để vừa săn sóc, vừa dạy chúng biết sợ con người?

Sharing is good:
0

NÓI HỚ?

Gần đây nhiều người “tổng kết” những phát ngôn “hớ” của vài đồng chí. Kết luận: một bộ phận không nhỏ các đồng chí chưa quen làm việc với truyền thông.

Đúng, nhưng chắc vấn đề không chỉ có thế.

Phát ngôn “hớ” trước quần chúng tức là chưa quen xử lý quan hệ với số đông., chưa lường được số đông sẽ phản ứng thế nào với câu nói của mình.

Chữa bệnh này khó đấy. Để lọt vào “số ít” lãnh đạo, phần lớn chỉ rèn kỹ năng “xử lý quan hệ” với số ít (các đồng chí cấp trên của mình), mà không cần quan hệ với số đông.

Bao giờ cho đến lúc muốn được vào “số ít” thì cần phải giỏi xử lý quan hệ với “số đông”, chừng đó mới bớt được các phát ngôn “hớ”.

Sharing is good:
0

HÀ GIANG, VÀ TƯƠNG LAI?

Mấy hôm nay không ai yên được với chuyện buồn ở Hà Giang. Và ai cũng cố nghĩ để tìm phương án cho tương lai.

Hình như hầu hết chỉ tìm ra cách…quay về quá khứ! Tức là lại các trường tổ chức thi riêng. Lại tách thành hai kỳ thi, hoặc bỏ thi tốt nghiệp. Cũng phải, vì mọi chuyện “ngày xưa” có vẻ ổn hơn.

Nhưng nói cách sên sến người ta vẫn hay nói thì “quá khứ không ngủ yên”. Nó thay đổi rồi!

Tôi tốt nghiệp THPT năm 1963. Hồi đó thi tốt nghiệp tại trường, thi 6 môn, và thi vấn đáp! Các trường đại học có bài thi riêng, nhưng tổ chức thi cũng tại trường. Không có cán bộ đại học về giám sát. Không nghe nói gì về “tiêu cực”. Mà có lẽ cũng không có tiêu cực.

Ngược lại quá khứ xa hơn nữa: giáo sư Hoàng Tuỵ kể là khi ông thi vào Trường Sư phạm cao cấp ở Việt Bắc (thời kỳ kháng chiến), bài thì được gửi về nơi ông ở, Quảng Nam. Làm bài xong, giao thông kháng chiến chuyển lên Việt Bắc. Sáu tháng sau thì có kết quả!

Nói vậy để thấy, “quá khứ” thay đổi rồi, không quay về được nữa đâu. Cũng không hy vọng quá nhiều vào cải tiến “quy trình”, của hiện tại hay quá khứ . Tất nhiên là có thể cải tiến để tốt hơn, nhung rồi quy trình nào cũng có kẽ hở, cũng có người tìm ra cái kẽ hở đó.

Vậy thì làm thế nào đây?

Cũng như các bạn, tôi cũng cố nghĩ. Và nghĩ chưa ra! Có điều tôi sẽ không cố gắng quay về hay “cải tiến quá khứ”. Nó thay đổi rồi.

Sharing is good:
0

ĐÁNH, ĐẤM, BOM,

Mình không có tý chuyên môn nào về ngôn ngữ học. Có lẽ chính vì thế mà có nhiều thắc mắc về ngôn ngữ. Không biết hỏi ai, nên thường cố tự trả lời.

Có nhiều từ mà dân ta rất hay dùng, nhưng các nơi khác chắc không như thế:

– RA QUÂN: có thể không phải là để đánh nhau, mà chỉ là hô hào đi…nhặt rác!
– TRẬN ĐÁNH, QUẢ ĐẤM, có khi là “quả đấm thép”: cũng không định đánh đấm ai, mà đang bàn về việc dạy các em học sinh nhỏ thì nên dạy thế nào!
– BỎ BOM: cái gì đó đến rất bất ngờ
– BĂNG ĐẠN, là tên cái phao bơi mình vừa mua được ở Nha Trang, nó dùng để cứu người, không định bắn ai.

Ngẫm ra, thấy buồn. Một dân tộc liên miên trong chiến tranh, nên những từ liên quan đến súng đạn, đánh nhau là những từ thông dụng và dễ hiểu nhất. Bao giờ được như người Nga, cái gì bất ngờ thì chỉ như bị “tuyết rơi trúng đầu”, không phải ”bị bỏ bom”.

Đó là chưa kể những “Quầy THU đổi ngoại tệ”. Nó gợi nhớ cái thời có ngoại tệ là bị thu, đâu có quyền đổi!

Còn nhiều nữa. Nhưng thôi, hy vọng chúng ta sẽ quen dần với ngôn ngữ của Hòa Bình, của đời thường. Cho dù đang phải hát “Mãi mãi lòng chúng ta/ Ca bài ca người lính”.

Sharing is good:
0

CẮT TÓC VỈA HÈ 50: GIẢI NGHỆ

Lâu không đi cắt tóc, tìm mãi mới ra chỗ tay thợ quen. Thấy một thằng oắt con đang cắt, chợt nhận ra cu Tèo.
– Tèo, bố đâu mà mày phải cắt?
– Bố cháu giải nghệ rồi ông ạ!
– Giải nghệ, bố mày đã già đâu chứ?
– Thì thế, nhưng bố cháu bảo nghề này không hợp với ông ấy. Tính ông ấy hay nói chuyện, rồi thì chuyện nọ xọ chuyện kia, ông ấy bảo mấy lần phải vạ với phường rồi đấy! Với lại bây giờ cắt cũng khó. Cắt kiểu gì người ta cũng chê. Thiên hạ lắm chuyện, mà tính bố cháu nói vậy chứ nhát lắm ông ạ! Ông ấy để lại cái quán này cho cháu, còn học tivi, long trọng nói là “nhường thế hệ trẻ”!
– Thế giờ bố mày làm gì?
Hắn che miệng cười, lấm lét nhìn vào trong, rồi thì thầm:
– Bố cháu hý hoáy viết suốt ngày, cháu nghe loáng thoáng cái gì như là “hồi ký” ông ạ! Bố cháu bảo để ghi lại những chuyện đã nói cùng với khách, kẻo quên.
– Hồi ký? Bố mày viết thì có mà “lách cách, loẹt xoẹt” từng nhát như dao kéo tông đơ, chứ văn với chương gì!
– Thì chính tại ông đấy! Bố cháu bảo có lần ông nói văn của ông bị ảnh hưởng vì hay cắt tóc chỗ bố cháu, thành ra cứ từng nhát, từng nhát, chẳng “lãng mạn” như người khác. Ông lại còn bảo bố cháu đồng sáng lập trường phải văn chương “xoẹt xoẹt” với ông!

Mình bỏ đi mà không khỏi tiếc. Thằng ấy cắt tóc khá thế, bây giờ lại đi viết hồi ký! Mà xem ra mình cũng có chút tội trong đó. Nhưng dù sao cũng phải xếp hắn vào hàng “cao nhân”: biết giải nghệ sớm.

Sharing is good:
0

CÁI TÊN, VÀ THẾ GIỚI SỐ

Trong tiểu thuyết “Lão Già” (Triponov, bản dịch của Cao Kim Ánh, NXB K8, 2018) có đoạn:
“Toàn trường biết vào hôm ấy tại lớp học của chúng tôi sẽ mổ một con chuột, còn sống hẳn hoi. Cậu bé mang nó đến trong một cái lồng, không hiểu sao lại nói rằng tên của con chuột là Fenia. Chính cậu được gọi lên mổ. Đột nhiên có một đoàn đại biểu lớp trên đến vào đúng giờ học, đứng đầu là Volođia.
“Chúng tôi không muốn giết một sinh linh trong trường của chúng ta. Chúng tôi rất thương Fenia “. … Việc thông báo rằng con chuột có tên là Fenia hóa ra là một điều tai hại. Con chuột giờ không còn chỉ là một con chuột, nó đã trở thành một nhân vật. Người ta xem xét nó, cư xử với nó như với một cô Fenia. Tại cuộc họp, vang lên các bài phát biểu nhiệt huyết, người ta quên mất con chuột đang khiêm tốn chờ đợi quyết định về số phận của mình, tranh luận về khoa học, về lịch sử, về máy chém, về Công xã Paris. Các mục tiêu vĩ đại đòi hỏi sự hy sinh! …
Cuối cùng chúng tôi quyết định bỏ phiếu. Không chỉ lớp chúng tôi, vấn đề con chuột đã kích thích toàn trường. Con chuột được ân xá.”
Bạn có thể ăn thịt chó, thậm chí ăn thịt con vàng, con vện. Nhưng khó mà ăn thịt Capi, Zerbino, hay Dolce! Khi đã có một cái tên, nó trở thành “nhân vật”.
Không hiểu từ khi nào, người ta cho mỗi tù nhân một con số. Chỉ còn là 567, 430,…không tù nhân nào là “nhân vật” nữa. Đã thế, họ lại còn được mặc đồng phục. mà đồng phục tù nhân hao hao như đồng phục bệnh viện. Cũng pijama, áo kẻ sọc. Trong bộ quần áo đó, con người cảm thấy mình yếu đuối.
Ai nghĩ ra áo số, quần pijama, và nghĩ ra từ khi nào nhỉ? Xem ra đề tài “sự ra đời và phát triển của việc đánh số tù nhân, trang phục bệnh viện” là đề tài Tiến sĩ hay đấy chứ!
Rồi 4.0, 5.0 sẽ đến. Thế giới này sẽ thành “thế giới số” chăng?

Sharing is good:
0

BỆNH NGHỀ NGHIỆP

Làm thợ tiện dễ bị tiếng ồn gây điếc tai.
Nhiều nông dân bảo quản hành bị xông mù mắt.
Nghề dạy học bụi phấn nhiều dễ viêm phế quản.

Nói chung thì nghề gì có “bệnh nghề nghiệp” của nghề đó.

Xem ra nghề làm Toán dễ mắc bệnh “chứng minh”.
Tức là luôn cố chứng minh mình đúng!

Thế nên khi thảo luận, mục tiêu cao nhất vẫn là chứng minh ý mình là đúng. Có nghe người khác thì cũng chỉ chăm chăm để “phản biện”, không hoàn toàn chỉ có “nghe”.

Phát hiện ra “bệnh nghề nghiệp” của dân Toán, mình cũng phát hiện ra nguyên nhân vì sao mình làm Toán chưa giỏi. Ấy là vì bệnh “chứng minh” của mình có thể còn hơi nhẹ!

Tất nhiên mình cũng không cố chứng minh mệnh đề trên là đúng đâu (tức là bệnh của mình chưa chắc đã nhẹ!).

Sharing is good:
0

BÃO

Thỉnh thoảng, Thiên nhiên lai thử thách con người: sõng thần, bão, động đất,…

Sau đợt sóng thần kinh hoàng ở Thái Lan, người ta bỗng được thấy lại bãi biển trinh nguyên tuyệt vời. Sóng đã cuốn trôi mọi thứ mà con người dựng lên trên bãi biển.

Mỗi cơn bão cũng quét sạch cái không khí ô nhiễm, tù đọng.

Thiên nhiên bao gờ cũng làm đúng cái cần làm. Chỉ là con người chưa biết đối diện với nó.

Ở đâu cũng có lúc cần bão. Trong mỗi người cũng vậy.

Sharing is good:
0