ÔNG NÔI – BÀ NÔI.

ÔNG NỘI (bài 1).

Ông Nội tôi sinh năm 1860. Cũng như Bà Nội, với tôi, ông là con người của ngày xưa, và của lịch sử nữa. Đỗ Đầu Xứ Nghệ Tĩnh năm 18 tuổi, tham gia Phong trào Cần Vương theo Cụ Phan Đình Phùng, rồi phiêu bạt trốn truy nã, rồi trở về quê dạy học. Cha tôi bảo Ông theo nghĩa quân, nhưng chẳng có võ nghệ gì, được bổ chức Tả Tướng quân. Nghe thì “oai” thế, nhưng với ngôn ngữ ngày nay thì là Thư ký của cụ Phan.

Cuộc đời Ông đúng là cuộc đời gian truân của “trai thời loạn”. Cố của tôi mất sớm. Cụ cũng đỗ đạt, làm quan, nhưng nghe nói không bỏ được cái tính “lãng tử”. Thường uống rượu ngâm thơ với bạn bè. Lại thích cưỡi trâu đi chơi (chẳng biết có phải vì bắt chước Lão Tử không nữa), rồi bị cảm, mất sớm. Vậy nên Ông tôi mồ côi cha từ năm 6 tuổi, mồ côi mẹ năm 12 tuổi, 15 tuổi đã phải dạy học kiếm ăn. Lại vào cái thời “sự học ngày nay đã chán rồi”, nên chuyện về Ông tôi mà cha tôi kể lại, nghe cứ như chuyện mấy Nhà Nho bất đắc chí trong sách Nguyễn Tuân hoặc Ngô Tất Tố. Tôi biết về Ông nội, một phần qua lời kể của Cha tôi, một phần qua bài “Thiếu niên cảnh thuật” Ông để lại trong Gia phả, kể về cuộc đòi mình.

Cứ như lời Cha tôi thì việc chính của các cụ bạn bè với Ông tôi là uống rượu, bình thơ. Thời đó, các cụ uống ít, mỗi người một cái chén “hạt mít”, chứ không dùng “cốc vại” như bây giờ. Thức nhắm chẳng có gì, may ra được mấy quả trám đen mà dân Hương Sơn quê tôi trồng khá nhiều. Đêm đêm các Cụ ra bờ sông, ngồi với mấy cô phường vải, đặt thơ cho các cô hát đối đáp. Bởi thế nên quê tôi mới nổi tiếng với những khúc hát phường vải, mà đa phần là do các cụ Nho học làm ra.

Là người có chữ trong làng, nên Ông tôi hay giúp người ta theo kiện khi bị mấy ông quan địa phương ức hiếp. Viết hộ họ đơn từ, bày cho họ lý lẽ. Nhiều khi phải cho họ tiền để theo kiện nữa. Có lần Ông giúp một người mà trong làng không ai ưa. Người ta bảo: “Ông giúp nó, nhưng rồi sau này nó đối với ông chẳng ra gì đâu”. Ông tôi cười:”Tôi biết chứ. Nhưng phàm là con người thì ai chẳng có cái xấu. Người ta tốt với mình thì quý quá rồi, còn người ta xấu với mình thì lẽ thường thôi, sao phải bận tâm. Bây giờ nó đáng được giúp, thì giúp thôi!”.

Cứ thế, những mẩu chuyện nhỏ về Ông Nội, Bà Nội đến với chúng tôi từ bé, qua lời kể của Cha tôi, và theo chúng tôi suốt đời. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy quá khứ hiện ra đúng như Erenbourg từng viết, đại ý: Hồi ký của mỗi người cho ta bức tranh về quá khứ giống như hình ảnh ta thấy khi ngồi trong cái xe ô tô chạỵ ban đêm – đèn pha của nó khi thì chiếu vào cái gốc cây, khi thì dọi vào hòn đá. Mà trên thực tế chắc gì đó đã là gốc cây, hòn đá?

Chợt bắt gặp hòn đá nào, gốc cây nào thì ghi lại thôi. Không định viết hồi ký.

BÀ NỘI (bài 1).

Bà nội tôi mất năm 1913, 33 năm trước ngày tôi ra đời. Vậy nên với tôi, Bà là người của ngày xưa, chỉ nghe qua những mẩu chuyện mà cha tôi kể lại. Có vài mẩu chuyện, nhỏ thôi, nhưng không hiểu sao chỉ nhờ nó mà tôi hình dung ra Bà Nội rất rõ.

Cha tôi kể, có buổi tối, Bà tôi phát hiện ra tên trộm đang trèo bẻ buồng cau. Bà không dám kêu, sợ nó giật mình, ngã thì nguy hiểm.

Chờ cho tên trộm ôm được buồng cau xuống đất, Bà mới nhẹ nhàng khuyên nhủ hắn: “Có đói cũng đừng đi ăn cắp. Bây giờ thiếu thì bà cho buồng cau đó mang về. Từ nay đừng đi ăn trộm nữa nhé”. Tên trộm vâng dạ liên hồi, ôm buồng cau đi. Bà tôi mừng vì đã khuyên giải được một con người biết giữ mình trong sạch.

Qua đêm hôm sau, cả hàng cau bà trồng mong kiếm thêm ít tiền đi chợ đã bị vặt sạch! Bà tiếc, nhưng chỉ cười:” Để hắn thôi thói trộm cắp, một buồng cau chưa đủ”!

Sharing is good:
0